PDA

Xem bản đầy đủ : Bản chất của Nhị hợp, lục hợp là gì?



Thanhlong
09-10-2011, 11:13 AM
Trong dịch, ngoài yếu tố tương xung, tương sinh, thì vấn đề tương hợp cũng rất quan trọng.
Một hào bị hào khác trói buộc, phải chờ đến lúc xung hợp sự việc mới chuyển nấc rõ rệt, như 2 quả cầu được cột với nhau bởi 1 sợi dây.

Trong tử vi thì 2 cung nhị hợp với nhau cũng mang rất nhiều ý nghĩa, nhiều khi đến vận chính cung nhưng gốc vấn đề lại xảy ra ở cung nhị hợp.Giống như vận đến cung Quan ở mão nhưng sự việc lại chủ yếu ở cung Huynh đệ tuất thổ, thành ra toàn công việc(quan) liên hệ với anh em, người thân.

Tại sao 2 tam hợp Thân-tý-thìn (thủy) và Tỵ-dậu-sửu (kim) thì lại từng đôi một nhị hợp với nhau : tỵ hợp thân, dậu hợp thìn, sửu hợp tý? 2 tam hợp Kim -> thủy này tương sinh cho nhau có liên quan gì tới 3 cặp nhị hợp của 2 tam hợp ? Tại sao sinh của Kim lại hợp sinh của Thủy (tỵ-thân); vượng của kim lại hợp mộ của thủy (thìn-dậu); mộ của Kim lại hợp với vượng của thủy ?

Tương tự cho 2 tam hợp Hỏa(dần ngọ tuất) và mộc (hợi mão mùi).

Vậy bản chất của nhị hợp có mối liên hệ gì với ngũ hành tương sinh của tam hợp?

huynhde
10-10-2011, 08:21 AM
Mời bác làm tiếp ạ !
Giờ rồng xanh , phương đông mới
Xuất Hiện

Thanhlong
10-10-2011, 02:59 PM
Thành Long là diễn viên Tung của mà bác, rồng rắn gì đâu hii :)

huynhde
10-10-2011, 10:18 PM
Em chắc ở Thanh phố hay Ha nội cũng väy
Ra Đây giúp mạng 1 tay ,! Hôm Anh Và em
Caffe hen . Có bài gì hay xin mời Viết ạ!'

Thanhlong
12-10-2011, 12:00 AM
Kiến thức của em gà què, lém lúc ngại ko dám viết, sợ xem sai hii.

Em vào chém chuối, sai đâu bác chỉ đó hen :)

Anh hôm nọ nhờ bác xem quẻ, anh bảo không về cũng phải về HN í, mới về Hn rùi ạ, anh ấy về gấp quá nên nhờ em cảm ơn anh :)

NgoThem
29-12-2011, 05:50 PM
Tại sao 2 tam hợp Thân-tý-thìn (thủy) và Tỵ-dậu-sửu (kim) thì lại từng đôi một nhị hợp với nhau : tỵ hợp thân, dậu hợp thìn, sửu hợp tý? 2 tam hợp Kim -> thủy này tương sinh cho nhau có liên quan gì tới 3 cặp nhị hợp của 2 tam hợp ? Tại sao sinh của Kim lại hợp sinh của Thủy (tỵ-thân); vượng của kim lại hợp mộ của thủy (thìn-dậu); mộ của Kim lại hợp với vượng của thủy ?

Tương tự cho 2 tam hợp Hỏa(dần ngọ tuất) và mộc (hợi mão mùi).

Vậy bản chất của nhị hợp có mối liên hệ gì với ngũ hành tương sinh của tam hợp?


Câu hỏi nêu ra thật hay, nhưng vẫn chưa có được lời giải !

Thiên Hỷ
02-01-2012, 11:09 PM
Chào mọi người!
Theo thiển ý của Thiên Hỷ thì nhị hợp không hình thành trên sự tương sinh của tam hợp cục.
1) Lấy tam hợp Hợi[1] Mão[2] Mùi[3] và Dần[1'] Ngọ[2'] Tuất[3']
Ta thấy rằng, nó không "hợp" theo thứ tự trong mỗi tam hợp cục [1] hợp với [1'] nhưng [2] hợp với [3'] và [3] hợp với [2'].
2) Trong các quẻ lục hợp, ví dụ như Địa lôi phục chẳng hạn thì ta thấy nó được tạo thành từ một quái "âm" và một quái "dương".
Phải chẳng, bản chất của lục hợp là sự hợp về mặt âm - dương???

Thanhlong
07-01-2012, 10:15 PM
Không biết các bạn có hay dùng Lưu tuế để xem vận hạn không ? Lưu thái tuế là cái hoàn cảnh đưa tới chìa khóa sẽ mở tại năm đang xem.
Trong Phật giáo có khái niệm Thành-Thịnh-Suy-Hủy tương ứng với vòng Sinh-Vượng-Mộ của Tử vi.Nhưng vòng trường sinh của tử vi ko thấy trên các diễn đàn áp dụng vào xem vận hạn.

Khi quan sát một số lượng lá số và các biến cố xảy ra theo năm, thanhlong thấy 1 số logic.
Quay trở lại 2 tam hợp của Thiên hỷ.Giả sử cung mệnh tại Hợi như cho dễ hình dung.Cung Dần-Thân là Điền-Tử; Mão-Dậu là quan-thê; Thìn-tuất là Nô-Huynh.

Từ học thuyết Âm-Dương thì :Hư vô=>Thái cực=>Lưỡng nghi=>Tứ tượng (Thái dương-Thái âm-Thiếu Dương-Thiếu Âm).

Như vậy 12 cung tử vi chia thành 4 tam hợp tương ứng với Tứ tượng, tùy mục đích, thời điểm xem mà lấy gốc thời gian sự việc làm Thái dương.

Vậy đâu là Thiếu dương, đâu là Thái dương ? Đâu là cái duyên Khởi, đâu là cái duyên Thành ?

Nếu xem năm Dần, thì Dân Ngọ Tuất là Thái dương, Hợi mão mùi thiếu dương, Thân tý thìn là Thái âm, Tỵ dậu sửu thiếu âm.Lấy gốc sự việc làm Thái dương.

Thái tuế cung Dần, nhị hợp là Hợi mão mùi sẽ là duyên khởi của năm Mão.Sự việc của năm Mão sẽ khởi trong Hợi-Mão-Mùi của năm Dần.

Thái tuế cung Mão, nhị hợp là Dần Ngọ Tuất sẽ là duyên khởi của năm Thìn. Sự việc của năm Thìn sẽ khởi trong Dần Ngọ Tuất của năm Mão.

Thái tuế cung Thìn, nhị hợp là Tỵ Dậu Sửu sẽ là duyên khởi của năm Tỵ. Sự việc của năm Tỵ sẽ khởi trong Tỵ Dậu Sửu của năm Thìn.

Thái tuế năm Tỵ, nhị hợp là Thân Tý Thìn sẽ là duyên khởi của năm Ngọ.Sự việc của năm Ngọ sẽ khởi trong Thân Tý Thìn của năm Tỵ.

vv... Như vậy Nhị hợp là cái duyên khởi, cái bắt đầu, cái thiếu dương của cái Thái dương ?

Tại 1 vận luôn có cái Thiếu dương và thiếu âm của vận đó.Thiếu dương, thiếu âm này sẽ trở thành Thái dương, Thái âm ở thời điểm, vận tiếp theo.

Thiếu dương là cái bắt đầu, cái khởi sự, như 1 bông hoa bắt đầu nở, nên có khi những sự kiện quan trọng lại xảy ra ở cung nhị hợp.

Có khi năm Dần cưới, năm Mão bắt đầu cuộc sống vợ chồng; năm mão có bầu, sinh con đến năm Thìn mới nuôi con; năm Tỵ xin việc đến năm Ngọ công việc mới vào giai đoạn hoạt động;vv...

Một cách xem lá số song sinh là lấy cung Nhị hợp để an cung Mệnh cho lá số người em có phải là lấy cái Thiếu dương cho cái Thái dương ?

Đây chỉ là 1 quan điểm, các bạn cho ý kiến thêm.

Thiên Hỷ
08-01-2012, 10:55 PM
Cái này mình không thể phản biện được vì mình rất dốt tử vi. Nhưng có 2 điều mình muốn nói là:
+ Hư vô=>Thái cực=>Lưỡng nghi=>Tứ tượng: mình bác bỏ cái đoạn bôi đỏ ấy. Nếu xem hư vô là không có, thái cực là có thì cặp hư vô - thái cực là một cặp lưỡng nghi của thái cực nào đó rồi.
+ Một cách xem lá số song sinh là lấy cung Nhị hợp để an cung Mệnh cho lá số người em có phải là lấy cái Thiếu dương cho cái Thái dương: lá số song sinh cùng trứng (giống nhau) hay là khác trứng??? Nếu cùng trứng thì mình bác bỏ đoạn màu đỏ vì: Thái dương và thiếu dương tính chất khác hẳn nhau, trong khi đó những người song sinh cùng trứng rất giống nhau (về mặt vận hạn cũng như ngoại hình, tính cách...)!!!

Thiên Hỷ
08-01-2012, 11:08 PM
+ Xem hôn nhân được quẻ lục hợp tất thành; xem kiện tụng được quẻ lục hợp thì kéo dài; xem xuất hành gặp kẻ lục hợp thì bị ràng buộc, không đi được,... Trong đó rõ nhất là xem hôn nhân - sự hòa hợp của âm dương.
+ Trong khi: tương sinh thì MỘT TRƯỞNG - MỘT TIÊU (cái đi sinh sẽ dần biến mất thay thế bằng cái được sinh).
Với hai điều trên thì mình nghĩ: lục hợp là hợp về âm dương chứ không phải liên quan đến ngũ hành tương sinh!!!

Thanhlong
09-01-2012, 01:19 AM
Cái này mình không thể phản biện được vì mình rất dốt tử vi. Nhưng có 2 điều mình muốn nói là:
+ Hư vô=>Thái cực=>Lưỡng nghi=>Tứ tượng: mình bác bỏ cái đoạn bôi đỏ ấy. Nếu xem hư vô là không có, thái cực là có thì cặp hư vô - thái cực là một cặp lưỡng nghi của thái cực nào đó rồi.

Theo bạn Hư vô-Thái cực Là cặp lưỡng nghi của thái cực nào vậy bạn, vì đã có âm-dương đâu ?


+ Một cách xem lá số song sinh là lấy cung Nhị hợp để an cung Mệnh cho lá số người em có phải là lấy cái Thiếu dương cho cái Thái dương: lá số song sinh cùng trứng (giống nhau) hay là khác trứng??? Nếu cùng trứng thì mình bác bỏ đoạn màu đỏ vì: Thái dương và thiếu dương tính chất khác hẳn nhau, trong khi đó những người song sinh cùng trứng rất giống nhau (về mặt vận hạn cũng như ngoại hình, tính cách...)!!!

Mình nghĩ 2 lá số giống nhau ngoại hình cũng ko thể giống nhau. 2 lá số sinh đôi cùng trứng thì 2 cung mệnh nằm 2 cung nhị hợp nhưng vẫn có thể có ngoại hình như nhau.Cách xem này là 1 cuốn sách nói vậy, ko thấy nói cùng hay khác trứng (vì ngày xưa các cụ chẳng biết vụ này :D) có thể cần kiểm nghiệm thêm trong thực tế.

Thanhlong
09-01-2012, 01:30 AM
+ Xem hôn nhân được quẻ lục hợp tất thành; xem kiện tụng được quẻ lục hợp thì kéo dài; xem xuất hành gặp kẻ lục hợp thì bị ràng buộc, không đi được,... Trong đó rõ nhất là xem hôn nhân - sự hòa hợp của âm dương.
+ Trong khi: tương sinh thì MỘT TRƯỞNG - MỘT TIÊU (cái đi sinh sẽ dần biến mất thay thế bằng cái được sinh).
Với hai điều trên thì mình nghĩ: lục hợp là hợp về âm dương chứ không phải liên quan đến ngũ hành tương sinh!!!

Thực tế thì cứ 2 tam hợp tương sinh với nhau thì thành các bộ Lục hợp với nhau.

Hợi Mão Mùi (Mộc) và Dần-Ngọ-Tuất (Hỏa) tương sinh.
Tỵ Dậu Sửu (Kim) và Thân Tý Thìn (Thủy) tương sinh.
Tương sinh ở đây là tương sinh tam hợp, ko phải tương sinh từng chi.

Vậy tại sao sự Tương sinh tam hợp lại tạo nên Nhị hợp ?

NgoThem
09-01-2012, 09:59 AM
Vậy tại sao sự Tương sinh tam hợp lại tạo nên Nhị hợp ?


Chào anh ThanhLong

Câu hỏi được đặt ra, đó là: Tam hợp của địa chi, có nên căn cứ vào một điều kiện nào đó kèm theo, để được gọi là "tam hợp" ? Khi không thoả mãn một điều kiện nào đó, thì chỉ có thể được coi là "tam hội" có được không?

Khi khảo sát quẻ Chấn 6 hào biến:

- Hào Sơ tới Mùi
- Hào nhị tới Mão
- Hào Tam tới Hợi
- Hào Tứ tới Sửu
- Hào ngũ tới Dậu
- Hào Thượng tới Tị

Như vậy, ba hào nội quái Sơ + Nhị + Tam cho ta 3 chi Hợi - Mão - Mùi, ba hào ngoại quái Tứ + Ngũ + Thượng cho ta 3 chi Tị - Dậu - Sửu. Đối với Nội quái, trong môi trường của quẻ Hằng, tại thời điểm có can chi là Tân Dậu và Tân Sửu, thì hào Sơ và hào Tam giao nhau đầu và cuối. Giả như ta quan niệm Hợi - Mão - Mùi thoả 2 mãn điều kiện: thứ nhất là hoàn cảnh môi trường quẻ Hằng, thứ hai là thời gian tương ứng với Tan Dậu và Tân Sửu, thì Hợi - Mão - Mùi được gọi là "Tam hợp". Nếu không thỏa mãn 2 điều này, thì chỉ được coi là "tam hội".

Một giả thiết nêu ra như vây, mong được anh ThanhLong và anh Thiên Hỷ cho ý kiến.

khunglongbeo
09-01-2012, 10:38 AM
Trong dịch, ngoài yếu tố tương xung, tương sinh, thì vấn đề tương hợp cũng rất quan trọng.
Một hào bị hào khác trói buộc, phải chờ đến lúc xung hợp sự việc mới chuyển nấc rõ rệt, như 2 quả cầu được cột với nhau bởi 1 sợi dây.

Trong tử vi thì 2 cung nhị hợp với nhau cũng mang rất nhiều ý nghĩa, nhiều khi đến vận chính cung nhưng gốc vấn đề lại xảy ra ở cung nhị hợp.Giống như vận đến cung Quan ở mão nhưng sự việc lại chủ yếu ở cung Huynh đệ tuất thổ, thành ra toàn công việc(quan) liên hệ với anh em, người thân.

Tại sao 2 tam hợp Thân-tý-thìn (thủy) và Tỵ-dậu-sửu (kim) thì lại từng đôi một nhị hợp với nhau : tỵ hợp thân, dậu hợp thìn, sửu hợp tý? 2 tam hợp Kim -> thủy này tương sinh cho nhau có liên quan gì tới 3 cặp nhị hợp của 2 tam hợp ? Tại sao sinh của Kim lại hợp sinh của Thủy (tỵ-thân); vượng của kim lại hợp mộ của thủy (thìn-dậu); mộ của Kim lại hợp với vượng của thủy ?

Tương tự cho 2 tam hợp Hỏa(dần ngọ tuất) và mộc (hợi mão mùi).

Vậy bản chất của nhị hợp có mối liên hệ gì với ngũ hành tương sinh của tam hợp?

Kinh Dịch nói chung hay Tử Vi nói riêng, để giải quyết vấn đề mà bạn thắc mắc phải thì phải liên hệ Lục Thân - Lục Thần (dành cho bói dịch - phong thủy (kết hợp la kinh thì phải có lục thần) ) với nền tảng Ngũ Hành làm gốc thì mọi việc sẽ sáng tỏ. Bạn nên tìm đọc cuốn Nhân Mệnh Trong Kinh Dịch của tác giả Nguyễn Văn Hoạt và cuốn Chu Dịch Và Dự Đoán Học của Thiệu Vĩ Hoa để giải đáp thắc mắc của mình.

khunglongbeo
09-01-2012, 10:42 AM
Quay trở lại lấy một lá số của một bạn đã đăng ở topic http://tuvisaigon.com/showthread.php?t=840 làm ví dụ, thì mình trích lại bài mình đã viết về việc hạn từng tháng - và hạn đó nó tác động thế nào đến những người xung quanh mà không ảnh hưởng đến chủ lá số để bạn tham khảo:

Mình xin góp vui, chỉ ra các hạn của từng tháng trong năm 2011 của lá số này cộng với những người trong quan hệ họ hàng của chủ lá số có thể bị ảnh hưởng bởi hạn của chủ lá số để các bạn xem cho dễ:

Hạn tháng 1:
- Rơi vào các cung: Di (2), Nô (1), Quan (1), Mệnh (1), Phu (2)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, bố - mẹ - anh em trai, con gái
Hạn tháng 2:
- Rơi vào các cung: Tật (4), Tài (2), Di (1)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, con gái, bố - anh em trai bà ngoại
Hạn tháng 3:
- Rơi vào các cung: Tật (1), Tài (2), Tử (2), Phu (1), Điền (1)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, mẹ, bà ngoại, con trai, ông nội
Hạn tháng 4:
- Rơi vào các cung: Tài (2), Tử (2), Phúc (2), Quan (1)
- Những người bị ảnh hưởng: bản thân chủ lá số, Mẹ, chị em gái, ông cố (ngoại) nếu còn
Hạn tháng 5:
- Rơi vào các cung: Tử (2), Phu (2), Nô (2), Di (1)
- Những người bị ảnh hưởng: ông cố (ngoại) nếu còn, chồng, bố, anh em trai, bản thân chủ lá số
Hạn tháng 6:
- Rơi vào các cung: Phu (1), Bào (4), Phúc (1), Tật (1)
- Những người bị ảnh hưởng: Ông cố (ngoại) nếu còn, bản thân chủ lá số, chồng, chị em gái, anh chị em của bố
Hạn tháng 7:
- Rơi vào các cung: Bào (1), Mệnh (2), Phụ mẫu (1), Quan (2), Tử (1)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, ông cố (ngoại) nếu còn, bà ngoại, bố, mẹ
Hạn tháng 8:
- Rơi vào các cung: Phu (1), Mệnh (1), Phụ Mẫu (2), Điền (1), Tật (2)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, chồng, bố - mẹ, bà ngoại, anh chị em của bố
Hạn tháng 9:
- Rơi vào các cung: Tử (1), Phu (2), Phụ Mẫu (1), Phúc (2), Quan (1)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, Ông cố (ngoại) nếu còn, bà ngoại, bố, chị em gái, mẹ, ông nội
Hạn tháng 10:
- Rơi vào các cung: Phu (1), Phúc (1), Điền (2), Tật (1), Tài (2)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, chồng, chị em gái, anh chị em của bố, mẹ
Hạn tháng 11:
- Rơi vào các cung: Mệnh (1), Phụ Mẫu (2), Điền (1), Quan (2), Nô (1)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, bố, mẹ, ông nội
Hạn tháng 12:
- Rơi vào các cung: Bào (1), Phụ Mẫu (1), Điền (2), Quan (1), Nô (2)
- Những người bị ảnh hưởng: Bản thân chủ lá số, Ông cố (ngoại) nếu còn, mẹ, ông nội

Lưu ý: Khi xem kết hợp với tuổi của người liên quan thì càng rõ nét.

Thanhlong
09-01-2012, 10:51 AM
Chào anh ThanhLong

Câu hỏi được đặt ra, đó là: Tam hợp của địa chi, có nên căn cứ vào một điều kiện nào đó kèm theo, để được gọi là "tam hợp" ? Khi không thoả mãn một điều kiện nào đó, thì chỉ có thể được coi là "tam hội" có được không?

Khi khảo sát quẻ Chấn 6 hào biến:

- Hào Sơ tới Mùi
- Hào nhị tới Mão
- Hào Tam tới Hợi
- Hào Tứ tới Sửu
- Hào ngũ tới Dậu
- Hào Thượng tới Tị

Như vậy, ba hào nội quái Sơ + Nhị + Tam cho ta 3 chi Hợi - Mão - Mùi, ba hào ngoại quái Tứ + Ngũ + Thượng cho ta 3 chi Tị - Dậu - Sửu. Đối với Nội quái, trong môi trường của quẻ Hằng, tại thời điểm có can chi là Tân Dậu và Tân Sửu, thì hào Sơ và hào Tam giao nhau đầu và cuối. Giả như ta quan niệm Hợi - Mão - Mùi thoả 2 mãn điều kiện: thứ nhất là hoàn cảnh môi trường quẻ Hằng, thứ hai là thời gian tương ứng với Tan Dậu và Tân Sửu, thì Hợi - Mão - Mùi được gọi là "Tam hợp". Nếu không thỏa mãn 2 điều này, thì chỉ được coi là "tam hội".

Một giả thiết nêu ra như vây, mong được anh ThanhLong và anh Thiên Hỷ cho ý kiến.

Mình chưa hiểu lắm về ví dụ của bạn, quẻ Chấn tại sao 6 hào biến lại ra Tỵ Dậu Sửu Hợi Mão Mùi ?
Bên dưới lại là quẻ hằng có liên quan gì đến quẻ Chấn bên trên bạn đề cập ?

NgoThem
09-01-2012, 11:42 AM
Mình chưa hiểu lắm về ví dụ của bạn, quẻ Chấn tại sao 6 hào biến lại ra Tỵ Dậu Sửu Hợi Mão Mùi ?
Bên dưới lại là quẻ hằng có liên quan gì đến quẻ Chấn bên trên bạn đề cập ?

Ta thực hiện như sau:

Quẻ Chấn, sáu hào được nạp can chi:

- Thượng: Canh Tuất
- Ngũ: Canh Thân
- Tứ: Canh Ngọ

- Tam: Canh Thìn
- Nhị: Canh Dần
- Sơ: Canh Tý

1-) Ta thực hiện biến sáu hào quẻ Chấn lần thứ 1 được:

- Chấn - hào Sơ biến tới quẻ Dự => hào Sơ quẻ Dự ứng can chi Ất Mùi
- Chấn - hào Nhị biến tới quẻ Quy muội => hào Nhị quẻ Quy muội ứng can chi Đinh Mão
- Chấn - hào Tam biến tới quẻ Phong => hào tam quẻ Phong ứng can chi Kỷ Hợi
- Chấn - hào Tứ biến tới quẻ Phục => hào tứ quẻ Phục ứng can chi Quý Sửu
- Chấn - hào Ngũ biến tới quẻ Tùy => hào ngũ quẻ Tuỳ ứng can chi Đinh Dậu
- Chấn - hào Thượng biến tới quẻ Phệ hạp => hào thượng quẻ Phệ hạp ứng can chi Kỷ Tị

Ta nhận thấy, nội quái 3 hào Sơ + Nhị + Tam tương ứng với Hợi Mão Mùi, ngoại quái 3 hào Tam + Tứ + Thượng tương ứng với Tị Dậu Sửu. Vòng Trường sinh được căn cứ vào Nội quái, nên ta tiếp tục xét tới sự biến hoá trong Nội quái.

2-) Ta thực hiện biến lần thứ 2 riêng đối với hào Sơ và hào Tam:

- Tiếp tục hào Sơ quẻ Chấn biến lần 2 thì được quẻ Giải, ứng với can chi Mậu Thìn
- Tiếp tục hào Tam quẻ Chấn biến lần 2 thì được quẻ Đại tráng, ứng với canh chi Giáp Dần

3-) Ta thực hiện biến lần thứ 3 riêng đối với hào Sơ và hào Tam:

- Tiếp tục hào Sơ quẻ Chấn biến lần 3 thì được quẻ Hằng, ứng với can chi Tân Dậu
- Tiếp tục hào Tam quẻ Chấn biến lần 3, thì cũng được quẻ Hằng, ứng với can chi Tân Sửu.

Như vậy, hào Sơ và hào Tam thuộc Nội quái, cả hai hào Sơ + Nhị biến tới lần thứ 3 thì giao nhau tại quẻ Hằng, và ứng với thời gian can chi Tân Sửu và Tân Dậu.

Anh ThanhLong xét cách biến như vậy có thoả đáng không, mong được Anh cho ý kiến.

Thanhlong
09-01-2012, 09:15 PM
Mình chưa thấy sách nào có biến quẻ từ 1 quẻ như vậy, thông thường chỉ từ có biến dịch từ 1 quẻ chủ ra thôi :)

NgoThem
09-01-2012, 09:50 PM
Mình chưa thấy sách nào có biến quẻ từ 1 quẻ như vậy, thông thường chỉ từ có biến dịch từ 1 quẻ chủ ra thôi :)

Nguồn từ sách này:

火 珠 林 - Hỏa Châu Lâm

( 宋 - 麻 衣 道 者 - 精 心 校 对)
(Tống - Ma Y đạo giải - Tinh tâm hiệu đối)

Quyển 2 - Tiên thiên đại thành quẻ nhập môn (先 天 大 成 卦 入 门 ) có đoạn viết:

天险简述

甲鸡乙乾下亥逢,

丙入羊灾戊怕蛇。

壬居犬地与癸虎,

丁入申乡未时灾。

己午庚龙辛见兔,

天险地设使人愁。

ThanhLong tham khảo cho vui


NgoThem

Thanhlong
10-01-2012, 12:37 AM
Chà, TL ko biết tiếng Hán, NgoThem có thể giải thích phương pháp biến quẻ như vậy có ý nghĩa hay cơ sở ntn không ?

TL để ý trong 1 đơn quái thì Hào nhị luôn có địa chi thuộc tam hợp đối xung với Hào nhất-Hào Tam, và Hào nhị sẽ xung hào còn khuyết trong bán tam hợp của Hào nhất-Hào tam ?

Ví dụ quẻ Càn thì Hạ quái Tý-Dần-Thìn, Dần xung Thân khuyết trong Thân Tý Thìn.
Thượng quái thì Ngọ-Thân-Tuất, Thân xung Dần khuyết trong Dần-Ngọ-Tuất.Đây giống như trò đảo mạch tụ điện :D

1 quẻ trùng quái (ví dụ Thuần càn), sẽ là thế cục đối xung của 2 tam hợp cục (Dần ngọ tuất xung Thân tý thìn, Hỏa-Thủy).

Nếu Hào nhất là Địa, Hào Tam là Thiên, thì Hào Nhị đứng giữa là Nhân.
Điều lý thú là Thủy của hạ quái (Thân)-Tý-Thìn sẽ bị xung khi Dần mộc của tam hợp Hỏa đứng vào hào 2.
Tương tự Hỏa của thượng quái (Dần)-Ngọ-Tuất sẽ bị xung khi Thân kim của tam hợp thủy đứng vào hào 5.

Điều này giống như kiểu 2 ông tướng là Dần và Thân tiên phong nhảy vào lòng địch, liên thủ với bán tam hợp của mình để khắc chế đối phương.
Vì vậy quẻ lục xung thường mau chóng tàn cuộc ?

Tương tự cho các quẻ lục xung còn lại.

Thanhlong
10-01-2012, 01:32 AM
8 quẻ trùng quái tạo nên 2 thế trận lục xung.
8 quẻ lục hợp lại tạo nên thế trận nhị hợp với nhau, tạo thành sự vận động của 2 (bán) tam hợp tương sinh cho nhau.

Ví dụ quẻ Thiên Địa Bĩ: hào 1-6 là Mùi (Tỵ) Mão-Ngọ (Thân) Tuất.

Nội quái là quẻ Khôn, bán tam hợp Mộc.
Ngoại quái là quẻ Càn, bán tam hợp Hỏa. Nội quái sinh cho ngoại quái (Mộc sinh Hỏa).

(Tỵ) và (Thân) là trạng thái xung Hợi và Dần trong tam hợp gốc.

Như vậy 1 quẻ lục hợp là sự nhị hợp từng cặp (Mùi-Ngọ, (Tỵ)-(Thân), Mão-Tuất) để đạt được sự tương sinh của 2 tam hợp Mộc-Hỏa, tương sinh của Nội quái cho ngoại quái.
Tương tự cho 7 quẻ lục hợp còn lại ( Khốn, Lữ, Dự, Tiết, Bí, Phục, Thái) đều có sự tương sinh giữa 2 bán tam hợp cục nội-ngoại.

Nhìn trên địa bàn Tử vi cho dễ hình dung thì 1 quẻ lục hợp (6 hào) điền trên 6 cung sẽ đối xứng nhau qua trục tung của lá số.Tạo thành 2 (bán) tam hợp cục tương sinh.
Ko biết những dòng trên có áp dụng gì được vào luận đoán không nữa, các bạn góp ý thêm :)

khunglongbeo
10-01-2012, 02:14 AM
Trong dịch, ngoài yếu tố tương xung, tương sinh, thì vấn đề tương hợp cũng rất quan trọng.
Một hào bị hào khác trói buộc, phải chờ đến lúc xung hợp sự việc mới chuyển nấc rõ rệt, như 2 quả cầu được cột với nhau bởi 1 sợi dây.

Trong tử vi thì 2 cung nhị hợp với nhau cũng mang rất nhiều ý nghĩa, nhiều khi đến vận chính cung nhưng gốc vấn đề lại xảy ra ở cung nhị hợp.Giống như vận đến cung Quan ở mão nhưng sự việc lại chủ yếu ở cung Huynh đệ tuất thổ, thành ra toàn công việc(quan) liên hệ với anh em, người thân.

Tại sao 2 tam hợp Thân-tý-thìn (thủy) và Tỵ-dậu-sửu (kim) thì lại từng đôi một nhị hợp với nhau : tỵ hợp thân, dậu hợp thìn, sửu hợp tý? 2 tam hợp Kim -> thủy này tương sinh cho nhau có liên quan gì tới 3 cặp nhị hợp của 2 tam hợp ? Tại sao sinh của Kim lại hợp sinh của Thủy (tỵ-thân); vượng của kim lại hợp mộ của thủy (thìn-dậu); mộ của Kim lại hợp với vượng của thủy ?

Tương tự cho 2 tam hợp Hỏa(dần ngọ tuất) và mộc (hợi mão mùi).

Vậy bản chất của nhị hợp có mối liên hệ gì với ngũ hành tương sinh của tam hợp?

1. Ở phần in đỏ: Lục Hợp (Tam hợp) theo mình không liên quan gì đến nhị hợp như bạn ThanhLong đã đặc nghi vấn mà là dựa theo vòng trành sinh khởi theo kinh dịch, ví dụ tại sao Thân - Tý - Thìn lại tạo thành cục Thủy vì theo kinh dịch Thân Mão Là đất trang sinh của dương và âm thủy, lúc đó Tý sẽ là Đế Vượng còn Thìn là Mộ, nó phản ảnh một đời người từ lúc sinh ra (tràng sinh) đến lúc thành đạt (đế vượng) trong cuộc sống và trở về với cát bụi (mộ) - áp dụng tương tự với các cách cục khác.
2. Ở phần in xanh nước biển: Lí do là bạn phải áp dụng lục thân từ bốc phệ vào thì sẽ rõ hạn trong Tử Vi nó rơi vào ai, người nào (Cái này mình đã ví dụ ở trả lời trên cho hạn lá số mẫu)
3. Trả lời câu hỏi về vòng trang sinh có ứng dụng luận giải trong Tử Vi ? Mình xin trả lời là có, một ví dụ nhỏ cho người sinh năm Nhâm Dần thì ngũ hành Nạp âm là Dương Kim, vậy tràng sinh tại Tỵ, Đế Vượng tại Dậu, Mộ tại Sửu,... Như vậy ta có thể áp dụng để biết ngay là khi người này đi làm thì nên đặt văn phòng quay về hướng Tây (phong thủy), hoặc khi người này mất đi nên đặt mộ để đầu quay về hướng Đông Bắc....


Cái này mình không thể phản biện được vì mình rất dốt tử vi. Nhưng có 2 điều mình muốn nói là:
+ Hư vô=>Thái cực=>Lưỡng nghi=>Tứ tượng: mình bác bỏ cái đoạn bôi đỏ ấy. Nếu xem hư vô là không có, thái cực là có thì cặp hư vô - thái cực là một cặp lưỡng nghi của thái cực nào đó rồi.
+ Một cách xem lá số song sinh là lấy cung Nhị hợp để an cung Mệnh cho lá số người em có phải là lấy cái Thiếu dương cho cái Thái dương: lá số song sinh cùng trứng (giống nhau) hay là khác trứng??? Nếu cùng trứng thì mình bác bỏ đoạn màu đỏ vì: Thái dương và thiếu dương tính chất khác hẳn nhau, trong khi đó những người song sinh cùng trứng rất giống nhau (về mặt vận hạn cũng như ngoại hình, tính cách...)!!!


Chào mọi người!
Theo thiển ý của Thiên Hỷ thì nhị hợp không hình thành trên sự tương sinh của tam hợp cục.
1) Lấy tam hợp Hợi[1] Mão[2] Mùi[3] và Dần[1'] Ngọ[2'] Tuất[3']
Ta thấy rằng, nó không "hợp" theo thứ tự trong mỗi tam hợp cục [1] hợp với [1'] nhưng [2] hợp với [3'] và [3] hợp với [2'].
2) Trong các quẻ lục hợp, ví dụ như Địa lôi phục chẳng hạn thì ta thấy nó được tạo thành từ một quái "âm" và một quái "dương".
Phải chẳng, bản chất của lục hợp là sự hợp về mặt âm - dương???

Bạn hãy thử nghĩ đơn giản, vô cực là khi bố mẹ bạn chưa gặp nhau (chưa ai biết ai), đến khi gặp nhau thì thành lưỡng nghi (1 âm 1 dương lấy nhau), lấy nhau sinh ra tứ tượng (là bạn có năm - tháng - ngày - giờ sinh), tứ tượng sinh bát quái (vì năm tháng ngày giờ sinh bao gồm thiên can và địa chi).

---------------------------------------------
Góp ý: Mình nghĩ bạn chủ topic nên áp dụng thêm Bốc Phệ và đọc thêm cuốn giải đoán theo Tứ Trụ của Thiệu Vĩ Hoa thì sẽ sáng tỏ tất cả vấn đề mà bạn đang thắc mắc.

-----------------------------------
Vài dòng đóng góp mang tính cá nhân.

Thân !

NgoThem
10-01-2012, 07:34 AM
Chà, TL ko biết tiếng Hán, NgoThem có thể giải thích phương pháp biến quẻ như vậy có ý nghĩa hay cơ sở ntn không ?



Chào ThanhLong

Trật tự và có thứ tự, là một trong những nguyên tắc của Dịch. Hào Sơ rồi đến hào Nhị, hào Nhị rồi đến hào Tam, hết hào Tam rồi đến hào Tứ, thứ tự tiếp là hào Ngũ, kế tiếp theo là hào Thượng - đến hào Thượng thì "thăng" đã hết - hết "thăng" lại "giáng", từ hào Thượng giáng xuống hào Ngũ, hào Ngũ giáng xuống hào Tứ, ... "giáng" đến hào Sơ thì hết - hết giáng lại thăng ! Dịch - Hệ từ đã cho ta biết như vậy.

Dịch gia từ thời Hán, đại biểu là Mạnh Hỷ, Mã Dung, Tiêu Diên Thọ, Kinh Phòng, ... khi lập thuyết, khảo cứu sự thăng - giáng của một hào, thì nhận thấy, sau 20 lần thăng giáng, thì một hào lại trở về tới nguyên quái (bản cung). Người đời sau, trong đó có ngài Tuân Sảng, căn cứ vào Văn ngôn quẻ Càn nói: "Bàng thông tình dã" (旁 通 情 也), đã xây dựng và lập thuyết lấy tên là "Bàng thông". Tới thời ngài Khổng Dĩnh Đạt thì gọi là quẻ "phản", rồi lại gọi là quẻ Thác, quẻ Tổng, ... Theo trường phái nghĩa lý thì gọi tên như vậy, còn đối với trường phái tượng số, thì gọi tên có khác. Ví như cặp quẻ Đại hữu - Đồng nhân, thì trường phái tượng số gọi tên là "Tuyệt mệnh", .... Ta tạm kê cứu lịch sử là như vậy.

Quá trình vận hành thăng giáng tiêu tức của âm dương, thông qua 1 hào biến hóa, cổ nhân nhận thấy: khi ta xuất ra 1, thì tương ứng, ta cũng nhận lại 1. Đây được gọi là xuất - nhập vậy.

Một mẹ Chấn sinh được 6 con (Dự, Quy muội, Phong, Phục, Tùy, Phệ hạp), thì cổ nhân lập thuyết cho rằng, đây là quá trình "xuất" ra, có nghĩa là sinh thành 6 con, là quá trình biến lần thứ nhất. Một hào 20 lần biến thì trở về tới bản cung, từ lần biến thứ 2 cho tới lần biến thứ 19 (số biến thực là 18), thì cổ nhân lập thuyết rằng: đây là quá trình "nhập" vào, có nghĩa là khi Ta xuất ra 1, thì nhập vào 18.

Lời giải thích của Tôi như vậy, không biết có phù hợp với câu hỏi của ThanhLong không? Hy vọng chúng ta tìm được tiếng nói đồng thuận vậy.

NgoThem

Thanhlong
10-01-2012, 10:31 AM
1. Ở phần in đỏ: Lục Hợp (Tam hợp) theo mình không liên quan gì đến nhị hợp như bạn ThanhLong đã đặc nghi vấn mà là dựa theo vòng trành sinh khởi theo kinh dịch, ví dụ tại sao Thân - Tý - Thìn lại tạo thành cục Thủy vì theo kinh dịch Thân Mão Là đất trang sinh của dương và âm thủy, lúc đó Tý sẽ là Đế Vượng còn Thìn là Mộ, nó phản ảnh một đời người từ lúc sinh ra (tràng sinh) đến lúc thành đạt (đế vượng) trong cuộc sống và trở về với cát bụi (mộ) - áp dụng tương tự với các cách cục khác.

Khunglongbeo có thể vẫn chưa hiểu vấn đề mình nêu.

Dĩ nhiên là 1 tam hợp sẽ có vị trí sinh vượng mộ, nhưng 2 tam hợp tương tác với nhau thì thế nào ?
Ngoài xung ( tý-ngọ, mão dậu,vv..) thì còn có hợp (6 cặp nhị hợp-lục hợp). Lục hợp là 6 cặp nhị hợp, khác tam hợp.
Trong dịch học có khái niệm nguyên thần, thì trong tam hợp cũng cần phải có 1 nguyên thần của tam hợp gốc.
Cụ thể là tam hợp Mộc sẽ là nguyên thần của tam hợp Hỏa, do đó 2 cặp tam hợp này từng đôi nhị hợp với nhau (Dần-Hợi, Ngọ-Mùi, Mão-Tuất).
Tương tự Tam hợp Kim sẽ là nguyên thần của tam hợp Thủy.
1 quẻ lục hợp về bản chất là sự nhị hợp của từng đơn hào (1-4,2-5, 3-6) sẽ tạo nên sự tương hợp, tương sinh của Thể-Dụng, Nội-Ngoại.
Đây mới là gốc của quẻ lục hợp, nên quẻ lục hợp thường phải được giải quyết qua 3 giai đoạn, từng nấc từng nấc một trước khi toàn cục (thể-dụng) được giải quyết theo chiều hướng tương sinh.

Thanhlong
10-01-2012, 10:40 AM
Vì sao lại phân chia ra 2 cặp Nguyên thần-Dụng thần là Mộc-Hỏa và Kim-Thủy.
Các sách, các trường phái cãi nhau rất nhiều về trường sinh của Thổ. Vậy thổ nằm ở đâu. Ta thấy thổ ở Tứ mộ, nhưng tứ mộ lại là đất nghỉ của 4 hành Mộc-Hỏa và Kim THủy. Mộc mộ ở Mùi, Hỏa mộ ở tuất,vv...
Nên có nhiều người cho rằng về bản chất chỉ có 4 hành, Thổ chỉ là trạng thái ngưng nghỉ của 4 Hành Kim-Thủy, Hỏa-Mộc.Do đó Thìn tuất sửu mùi được đặt vào giữa tứ chính và tứ sinh,trước khi chuyển giai đoạn sang hành mới.

Vạn vật đều có 2 đặc tính đó là Thống nhất và Đối lập,Lục xung sẽ tạo nên đối lập, lục hợp sẽ tạo nên thống nhất-tương sinh

Thanhlong
10-01-2012, 10:55 AM
3. Trả lời câu hỏi về vòng trang sinh có ứng dụng luận giải trong Tử Vi ? Mình xin trả lời là có, một ví dụ nhỏ cho người sinh năm Nhâm Dần thì ngũ hành Nạp âm là Dương Kim, vậy tràng sinh tại Tỵ, Đế Vượng tại Dậu, Mộ tại Sửu,... Như vậy ta có thể áp dụng để biết ngay là khi người này đi làm thì nên đặt văn phòng quay về hướng Tây (phong thủy), hoặc khi người này mất đi nên đặt mộ để đầu quay về hướng Đông Bắc....

Cách đặt phương hướng theo ngũ hành nạp âm năm sinh này liệu có mâu thuẫn với bát trạch không bạn ?
Ví dụ 1 người sinh năm 2004 Giáp Thân- nam mạng thuộc cung Khôn, Giáp thân thuộc thủy nên vượng tại Tý, nếu đặt phòng về hướng Khảm tức là rơi vào cung Tuyệt mạng đại kỵ của người cung Khôn. Bạn có thể đọc trong Bát trạch minh cảnh xem.

Thanhlong
10-01-2012, 11:03 AM
+ Hư vô=>Thái cực=>Lưỡng nghi=>Tứ tượng: mình bác bỏ cái đoạn bôi đỏ ấy. Nếu xem hư vô là không có, thái cực là có thì cặp hư vô - thái cực là một cặp lưỡng nghi của thái cực nào đó rồi.

Bạn cho mình hỏi: Theo mấy nhà khoa học thì vũ trụ khởi sinh từ 1 điểm kỳ dị, Bigbang nổ ra tạo nên không gian-thời gian đồng thời.
Tức là khi chưa có Bigbang thì chưa có khái niệm về thời gian, ko có trước-sau. Vậy làm sao có Âm_Dương vận động, tiêu trưởng.Trước Bigbang thì chưa có các khái niệm thuộc về Âm-Dương như Sáng-tối, nóng-lạnh, sống-chết, vv... Vậy Hư vô sinh Thái cực có thể bạn không dùng trong tử vi, nhưng có thể nó chứa 1 phương pháp tư duy ẩn sâu trong đó về các khái niệm CÓ-KHÔNG.

Thanhlong
10-01-2012, 11:08 AM
@Ngothem: TL thấy khó hiểu và ít sách vở nêu tính ứng dụng thực tế của cách biến quẻ của bạn, mình quen hiểu theo cách 1 quẻ Thuần sẽ sinh ra 7 quẻ biến, từ đó có các khái niệm về Phản ngâm, phục âm. Lúc nào đó có duyên chắc TL sẽ hiểu thêm

khunglongbeo
10-01-2012, 11:19 AM
1. Về phần bạn nói mình chưa hiểu vấn đề thì có lẽ mình hiểu sai ý của bạn thật, vì topic mở đầu mình đọc vào thì nghĩ bạn muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao khi giải hạn trong Tử Vi (Vì có đoạn ví dụ trong môn Tử Vi mà) nó lại rơi vào những người liên quan mà không rơi vào chủ thể lá số ? Và để giải quyết vấn đề này thì không phải do nhị hợp hay lục hợp đâu mà phải áp dùng Bốc Phệ lấy ngũ hành làm gốc thì mới tỏ tường. Còn nếu không phải vậy thì mình hiểu sai mục đích của topic.

2. Về phần bạn nói mâu thuẫn bát trạch thì mình nghĩ bạn cứng nhắc quá, ví dụ người sinh giáp Thân ngũ hành nạp âm là Dương Thủy, Tràng Sinh tại Thân - Đế Vượng tại Tí,... nhưng lỡ người này không làm quan chức mà muốn mở việc kinh doanh, họ hỏi về ngày khai trương thì trong tháng - ngày cụ thể thì như thế nào ? Lúc này bạn phải áp dụng sao lưu + ngũ hành của ngày - tháng mà họ hỏi để trả lời, nếu ngũ hành hôm đó tốt và trợ sinh cho họ thì dù gặp tuyệt hay gì đi nữa thì cũng chả vấn đề - giống như hạn gặp các sao xấu báo có thể mất mạng nhưng ngũ hành tốt thì vấn không sao cả, bản chất là một nhưng diễn giải nó ứng dụng cho nhiều vấn đề - chứ không nhất thiếtt là chỉ hướng chỗ ngồi. Do đó phải kết hợp nhiều thứ mới rõ được bản chất, ví dụ mình đưa ra chỉ là để nói có áp dụng rất lớn của vòng tràng sinh vào luận giải đấy - chứ không phải nó áp dụng theo kiểu cứng nhắc như vậy.
----------------------------------

Mình xin kết thúc thảo luận ở đây.
Thân !

Thanhlong
10-01-2012, 12:00 PM
1. Về phần bạn nói mình chưa hiểu vấn đề thì có lẽ mình hiểu sai ý của bạn thật, vì topic mở đầu mình đọc vào thì nghĩ bạn muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao khi giải hạn trong Tử Vi (Vì có đoạn ví dụ trong môn Tử Vi mà) nó lại rơi vào những người liên quan mà không rơi vào chủ thể lá số ? Và để giải quyết vấn đề này thì không phải do nhị hợp hay lục hợp đâu mà phải áp dùng Bốc Phệ lấy ngũ hành làm gốc thì mới tỏ tường. Còn nếu không phải vậy thì mình hiểu sai mục đích của topic.


Tức là dùng bốc phệ trong tử vi phải không bạn ? Cách sử dụng như thế nào vậy bạn ? TL đã đọc ví dụ của bạn cho 1 lá số nhưng không hiểu được cách dùng thế nào.

Đợt trước TL có mua mấy cuốn sách Nhân Mệnh trong Kinh Dịch nhưng vừa cho vừa mượn nên mất.Hình như cuốn sách này cũng nói về Bốc phệ trong Tử vi.

NgoThem
10-01-2012, 03:47 PM
Lúc nào đó có duyên chắc TL sẽ hiểu thêm




ThanhLong nói "chờ có duyên",

Một "cung" chứa 8 quẻ, với nguyên tắc thăng đến hào Ngũ thì lại giáng, nếu thăng đến hào Thượng, thì ngũ hành Bản cung sẽ bị xuất cung. Thuyết này, được lập từ ngài Kinh Phòng thời Hán, người đời sau gọi là Bốc Phệ Chính Tông.

Thiên Hỷ
10-01-2012, 06:20 PM
Mình chỉ xem âm - dương là trạng thái chứ không phải vật :)

Minh An
10-01-2012, 09:49 PM
Kính chào anh NgoThem, anh viết rất hay về nguyên lý thăng giáng của 1 quẻ.

Minh An còn 2 thắc mắc nhỏ, kính mong anh và các anh chị giải thích giúp.

1. Tại sao Thổ Thủy tương khắc mà cùng chung tam hợp.
2. Tại sao Tỵ là Hỏa, lại là đất tràng sinh của Kim?

ryan88
10-01-2012, 10:24 PM
2. Tại sao Tỵ là Hỏa, lại là đất tràng sinh của Kim?

cái này hay hen...đó giờ ko để ý...cứ nghĩ dần thân tỵ hợi tứ sinh tỵ thuộc tam hợp kim nên suy ra nó là tràng sinh kim tương tự mấy cái còn lại...

câu số 1 ngày xưa có đọc 1 đoạn giải thích mà ko nhớ lắm vì mấy cái này nó vĩ mô quá ^^

Thanhlong
11-01-2012, 12:05 AM
Một "cung" chứa 8 quẻ, với nguyên tắc thăng đến hào Ngũ thì lại giáng, nếu thăng đến hào Thượng, thì ngũ hành Bản cung sẽ bị xuất cung. Thuyết này, được lập từ ngài Kinh Phòng thời Hán, người đời sau gọi là Bốc Phệ Chính Tông.

Mình băn khoăn mãi, từ ngày đầu đọc dịch, tại sao lại không thể động lên hào thượng.Ngothem có ý gì không.
Về những phần luận giải của bạn bên trên, TL đã ngẫm mãi nhưng chưa hình dung được mục đích của việc biến quẻ đó.Khi nào kiến thức tăng thêm TL sẽ quay trở lại đọc.Cảm ơn Ngothem đã chia sẻ.

thanhnguyen
11-01-2012, 12:11 AM
Môn bói dịch này hay quá. Có anh nào bày em học với...
Em tìm cuốn ebook "Nhân mệnh trong Kinh Dịch" mà chẳng có, chắc chưa ai làm. Ít bữa ra nhà sách xem có ko đem về đọc thử. Thấy họ trích dẫn vài đoạn trên mạng thấy phức tạp ghê :(

NgoThem
11-01-2012, 10:13 AM
Kính chào anh NgoThem, anh viết rất hay về nguyên lý thăng giáng của 1 quẻ.

Minh An còn 2 thắc mắc nhỏ, kính mong anh và các anh chị giải thích giúp.

1. Tại sao Thổ Thủy tương khắc mà cùng chung tam hợp.
2. Tại sao Tỵ là Hỏa, lại là đất tràng sinh của Kim?


Chào Minh An

Chúng ta lại hội tụ nơi web: tuvilyso-saigon.com

Trước đây, Minh An đã thư tới Tôi, tại thời điểm đó, máy tính cá nhân Tôi sử dụng có vấn đề, nên thư của Minh An gửi bị lưu lạc, có thể vì nguyên nhân này nên Minh An có mặc cảm về Tôi.

Minh An cùng với bạn lấy tên: "VuThuong" hỏi Tôi tại sao lại chú trọng địa chi khi chiêm phệ, mà ít xét tới thiên can. Tôi đã trả lời rồi !

Nay, tại diễn đàn này, Bạn hỏi 2 câu. Trước khi trả lời 2 câu hỏi này, cá nhân Tôi cũng muốn biết một số thông tin về Minh An như sau:

- Minh An đã đọc và nghiên cứu về học thuyết của ngài Thiệu Ung, thông qua Thiết bản thần số chưa ?
- Minh An đã đọc: Tứ Khố toàn thư - Bàn Cổ thị - Hoàng Vương đại kỷ chưa ?

Tôi hỏi như vậy, là để biết cách ứng xử khi trả lời 2 câu hỏi của Bạn, nếu Minh An đã đọc và nghiên cứu rồi, thì cách trả lời của Tôi sẽ khác, còn khi Minh An chưa đọc, thì Tôi sẽ có cách từng bước trả lời, để chúng ta không lãng phí thời gian mà thu được những giá trị khi giao lưu trên mạng vậy.

Minh An
11-01-2012, 04:00 PM
@ Bác NgoThem, cháu không có mặc cảm gì đâu bác ạ. hic, đợt đó cháu có xem lại những gì mình viết thì thấy ngô nghê quá nên cháu thôi không làm phiền bác nữa bác ạ.

Thưa bác, cháu chưa có điều kiện tham khảo những sách bác đề cập, vì không có trên thị trường ạ. Cháu tự học và lên mạng tìm hiểu nên không có cơ hội tiếp cận những sách đó ạ.

Cháu chỉ dừng lại ở việc đọc và nghiềm ngẫm những sách khá "phổ thông" của Thiệu Vĩ Hoa, "Tăng san bốc dịch" của Dã Hạc Lão Nhân và có 1 thời gian ngắn được 1 bác cháu rất kính trọng dạy về ý nghĩa của các tám quẻ bát thuần, quy hồn và du hồn thôi ạ.

Thưa bác, cháu đọc bài viết của bác còn nhiều điều chưa hiểu, và cũng biết rằng cần hiểu được phải có thời gian tham khảo nhiều tư liệu hơn. Vì vậy cháu không tiếp tục truy hỏi thêm và dành thời gian tìm hiểu sâu hơn. Cũng như việc 1 đứa trẻ mới biết phép tính cộng, thì khó có thể hiểu được những khái niệm cao hơn như phép nhân hay phép chia .

Thưa bác, bác có thể chỉ dùm cháu cách nào để có được những tư liệu khác, để tham khảo sâu hơn về Dịch học không ạ? Cháu đã đọc bài "sưu tầm về Dịch thuyết" của bác, thấy thật sự mênh mông quá.

Kính mong bác chỉ dạy thêm ạ.

Cháu cảm ơn

Minh An
11-01-2012, 04:20 PM
Thưa bác, xin phép tiện trong mục trao đổi này và bớt tốn thời gian của bác. Cháu xin hỏi thêm mấy điều về bài viết cũ của bác trên tuvilyso.org mà cháu chưa hiểu.

Bác có viết "Cổ nhân nhận thấy, 1 hào trong quẻ, vận hành hết thăng lại giáng, hết giáng lại thăng, sau 20 lần như vậy, thì trở về tới Bản cung (nguyên quái) "

Bác có thể giải thích rõ hơn được không ạ? "Vận hành hết thăng lại giáng, hết giáng lại thăng" là thế nào ạ? Nguyên tắc ra sao ạ? Thực sự cháu chưa hiểu rõ.

Bác cũng viết "Ví dụ như hôm nay 08/01/2012, năm Tân Mão được số 28, tháng Tân Sửu được số 38, ngày hôn nay là Mậu Thìn được số 5, giờ Đinh Tị được số 54. Tổ hợp số được 28 + 38 + 5 + 54 = 125, từ đây thiết lập quẻ Tứ trụ như sau:

..............Năm.................Tháng......... .......Ngày..................Giờ
..........Tân Mão...........Tân Sửu...........Mậu Thìn.............Đinh Tị
..............Bí.....................Tiệm...... ...........Hàm................Đại súc

Thì cháu chưa hiểu tại sao năm Tân Mão được số 28 , tháng Tân Sửu được số 38 v.v..?

Về bài viết sau, khi bác bàn tới tam hợp và tam hội, cháu đã hiểu được một phần và tiếp tục suy nghĩ sâu hơn. Cách biến quẻ như vậy cho ta thấy nhiều thông tin hơn và thực sự đi sâu hơn vào bản chất các cung bát Thuần. Khi nào có gì khó cháu lại hỏi bác nhé. Hi

Minh An
11-01-2012, 04:33 PM
Thưa bác, về cách biến quẻ, cháu hiểu như sau có đúng không ạ?

Quẻ Chấn, hào sơ biến một lần ra được quẻ Dự, hào sơ biến lần 2, quẻ Dự hào nhị biến quẻ Giải?
Quẻ Chấn, hào tam biến một lần được quẻ Phong, hào tam biến lần 2, quẻ Phong hào nhị biến quẻ Đại Tráng?

Cách biến quẻ trên thực sự quá hay, nó cho thấy sợi dây thông tin được đi sâu hơn và dài hơn, từ đó có lợi hơn cho việc hành xử theo thời.

NgoThem
11-01-2012, 09:10 PM
Thưa bác, về cách biến quẻ, cháu hiểu như sau có đúng không ạ?

Quẻ Chấn, hào sơ biến một lần ra được quẻ Dự, hào sơ biến lần 2, quẻ Dự hào nhị biến quẻ Giải?
Quẻ Chấn, hào tam biến một lần được quẻ Phong, hào tam biến lần 2, quẻ Phong hào nhị biến quẻ Đại Tráng?

Cách biến quẻ trên thực sự quá hay, nó cho thấy sợi dây thông tin được đi sâu hơn và dài hơn, từ đó có lợi hơn cho việc hành xử theo thời.

@ Minh An

Bạn đã nắm được tinh thần theo cách nói trong Dịch - Hệ từ, đó chính là cái được gọi là thăng - giáng. Tôi lấy ví dụ quẻ Càn thăng giáng như sau:



1) Bản cung -- Càn
2) Nội Sơ -- Cấu -- Tân Sửu
3) Nội Nhị -- Độn -- Bính Ngọ
4) Nội Tam -- Bĩ -- Ất Mão
5) Ngoại tứ -- Quan -- Tân Mùi
6) Ngoại ngũ -- Bác -- Bính Tý
7) Ngoại thượng -- Khôn -- Quý Dậu
8) Ngoại ngũ -- Tỷ -- Mậu Tuất
9) Ngoại tứ -- Tụy -- Đinh Hợi
10) Nội tam -- Hàm -- Bính Thân
11) Nội nhị -- Đại quá -- Tân Hợi
12) Nội sơ -- Quải -- Giáp Tý
13) Nội nhị -- Cách -- Kỷ Sửu
14) Nội tam -- Tùy -- Canh Thìn
15) Ngoại tứ -- Truân -- Mậu Thân
16) Ngoại ngũ -- Phục -- Quý Hợi
17) Ngoại thượng -- Di -- Bính Dần
18) Ngoại ngũ -- Ích -- Tân Tị
19) Ngoại tứ -- Vô vọng -- Nhâm Ngọ
20) Nội tam -- Đồng nhân -- Kỷ Hợi
21) Bản cung -- Càn -- Giáp Dần


Như vậy, 1 quẻ 6 hào tương đương với số lần biến là 120 (tương đương 120 phân ~ phút, có nghĩa là 1 quẻ ứng với một Giờ), một Hào thông qua 19 lần biến hóa (số tính tháng nhuận), thể hiện quá trình vận hành của âm dương, hết thăng lại giáng, hết giáng lại thăng, đến lần thứ 20 trở về tới Bản cung. (Hai chữ "bản cung" này, được gọi cho 8 quẻ bát thuần, đối với 56 quẻ còn lại, thì được gọi là Nguyên quái)

Để tiện khảo cứu chuyên sâu, ta nên lập thành bảng thì dễ theo dõi hơn, ví dụ tại đây:

http://diendan.lyso.vn/viewtopic.php?f=16&p=540099#p540099

- Tại dòng 1, cột hào Sơ - Nhị - Tam - Tứ - Ngũ và hào Thượng, đã bộc lộ cho ta thấy sự hình thành "trục" Sửu - Mùi, sự khởi đầu của 3 hào Nội quái từ Sửu, sự khởi đầu của 3 hào Ngoại quái từ Mùi. Thông qua đây mà cổ nhân đã thiết lập những nguyên tắc kèm theo khi hành dụng tới trục Sửu - Mùi, hoặc nguyên lý Quý nhân xuất từ trục Sửu - Mùi,.v.v...

- Tại dòng 2, cột hào Sơ và hào Nhị, Ta nhận thấy giao nhau tại môi trường hoàn cảnh quẻ Độn, tương ứng với thời gian can chi là Bính Ngọ và Bính Thìn

- Tại dòng 3, cột hào Sơ và hào Tam, ta nhận thấy hai hào này giao nhau tại môi trường quẻ Bĩ, tương ứng với thời điểm can chi Ất Mão và Ất Mùi

- Tại dòng 4, cột hào Sơ và cột hào Tứ giao nhau tại quẻ Quan, lại thêm bên trong chứa sự giao nhau của hào Nhị và hào Tam tại môi trường quẻ Tụng. Như vậy, cặp thế - ứng của hào Sơ và hào Tứ quẻ Càn, đã cho ta biết điều kiện thỏa mãn của thế - ứng, đó chính là hoàn cảnh môi trường tương ứng với quẻ Quan, và tại thời gian tương ứng với cặp can chi Tân Mùi và Ất Mùi.

- Tương tự như vậy, hào Nhị với hào Ngũ là cặp Thế - Ứng, tại lần biến thứ 6 thì giao nhau tại hoàn cảnh môi trường quẻ Mông, ứng với thời điểm Bính Tý và Mậu Thìn

- Hào Tam và hào Thượng giao nhau tại quẻ Thăng, khi biến đến lần thứ 8, ứng với thời gian Quý Dậu và Tân Dậu.

Toàn kinh, 64 quẻ đều như vậy !

Cho nên, Cổ nhân nói:

Đạo sinh một,
Một sinh Hai, thì Sơ + Nhị giao,
Hai sinh Ba, thì Sơ + Tam giao,
Tới 4 thì Sơ + Tứ giao chứa Nhị Tam giao
Tới 5 thì Sơ + Ngũ giao chứa Nhị + Tứ giao
Tới 6 thì Nhị + Ngũ giao chứa Tam + Tứ giao, lại thêm Sơ + Thượng cũng giao
Tới 7 thì Nhị + Thượng giao chứa Tam + Ngũ giao
Tới 8 thì Tam + Thượng giao chứa Tứ + Ngũ giao

- Riêng lần biến thứ 6 tại dòng 6, cột hào Sơ và hào Thượng giao nhau, đây cho ta biết đầu - cuối, cũng như Hệ từ nói: "thành ngôn tại Cấn", "kết thúc và mở đầu", ...

- Tượng của hào Thượng luôn luôn vận hành nghịch với tượng hào Ngũ trong 20 lần biến hóa, đối với những Dịch gia thời Tống, thì coi đây là điều sâu kín của thế giới tự nhiên, có nghĩa là mối quan hệ giữa cái Tất nhiên và cái Ngẫu nhiên vậy. Toàn kinh 64 quẻ thì tượng của hào Thượng luôn như vậy. Cho nên, trường phái nghĩa - lý mà đại biểu là ngài Vương Bật đã nói: "Sơ thượng không ngôi". Cụ thể như sau:

Hào Ngũ 20 biến: Càn => 1 Đại hữu => 2 Đại súc => 3 Tổn => 4 Di => 5 Bác => 6 Mông => 7 Cổ => 8 Đỉnh => 9 Cấu => 10 Đại quá => 11 Hằng => 12 Thăng => 13 Sư => 14 Khôn => 15 Phục => 16 Lâm => 17 Thái => 18 Đại tráng => 19 Quải => 20 Càn.

Hào Thượng 20 biến: Càn => 1 Quải => 2 Đại tráng => 3 Thái => 4 Lâm => 5 Phục => 6 Khôn => 7 Sư => 8 Thăng => 9 Hằng => 10 Đại quá => 11 Cấu => 12 Đỉnh => 13 Cổ => 14 Mông => 15 Bác => 16 Di => 17 Tổn => 18 Đại súc => 19 Đại hữu => 20 Càn

- Tới lần biến thứ 10 thì cả 6 hào đều giao nhau, cổ nhân cũng đã khai thác nguyên lý này rất sâu sắc. Ví như thông qua 10 số đếm của Hà Đồ, hoặc như Hệ từ nói: "trời 1 đất 2, trời 3 đất 4, ..."

- Hai quẻ Càn - Khôn đã cho ta biết, tại cột 7 hào Thượng, từ dòng 1 => 6, đây chính là nguyên lý mà ngài Mạnh Hỷ đã lập thuyết Quái Khí về 12 quẻ Bích, tương ứng với 12 cung địa bàn.

-Toàn kinh 64 quẻ, cặp hào Sơ + Tứ, khi biến đến lần thứ 4 và lần thứ 14, thì đều giao nhau tại một quẻ Dịch nào đó, ví dụ như quẻ Càn, thì hào Sơ và hào Tứ biến đến lần thứ 4 thì giao nhau tại quẻ Quan, biến đến lần thứ 14 thì giao nhau tại quẻ Truân. Đối với Quy Tàng Dịch thì phát triển đi sâu vào lần biến thứ 4 và 14 của một hào, được gọi là Địa Dịch.

- Toàn kinh 64 quẻ, cặp hào Nhị + Ngũ, khi biến đến lần thứ 6 và lần thứ 16, thì đều giao nhau với một quẻ nào đó. Ví dụ quẻ Càn, cặp hào Nhị + Ngũ, khi biến đến lần thứ 6 thì giao nhau tại quẻ Mông, còn khi biến đến lần thứ 16, thì giao nhau tại quẻ Lâm. Đối với Liên Sơn Dịch, thì khai thác sâu rộng tới lần biến thứ 6 và 16 của một hào, được gọi là Nhân Dịch.

- Toàn kinh 64 quẻ, cặp hào Tam + Thượng, khi biến đến lần thứ 8 và lần thứ 18, thì đều giao nhau tại một quẻ Dịch nào đó. Ví như quẻ Càn, cặp hào Tam + Thượng khi biến đến lần thứ 8, thì giao nhau tại quẻ Thăng, khi biến đến lần thứ 18, thì giao nhau tại quẻ Đại súc. Đối với Kinh Dịch phát triển phổ thông như hiện nay, thì đi sâu khai thác về nghĩa - lý và tượng - số của lần biến thứ 8 và lần biến thứ 18, được gọi là Thiên Dịch

NgoThem
11-01-2012, 10:26 PM
Bác cũng viết "Ví dụ như hôm nay 08/01/2012, năm Tân Mão được số 28, tháng Tân Sửu được số 38, ngày hôn nay là Mậu Thìn được số 5, giờ Đinh Tị được số 54. Tổ hợp số được 28 + 38 + 5 + 54 = 125, từ đây thiết lập quẻ Tứ trụ như sau:

..............Năm.................Tháng......... .......Ngày..................Giờ
..........Tân Mão...........Tân Sửu...........Mậu Thìn.............Đinh Tị
..............Bí.....................Tiệm...... ...........Hàm................Đại súc

Thì cháu chưa hiểu tại sao năm Tân Mão được số 28 , tháng Tân Sửu được số 38 v.v..?



Đây chính là số thứ tự của 60 cặp can chi trong bảng Hoa Giáp. Như can chi Tân Mão thuộc tuần thủ Giáp Thân, thì Giáp Tý là 1, tới Giáp Tuất là 11, tới Giáp Thân ứng số 21, cho nên Tân Mão được số 28, tương tự như vậy với tổ hợp can chi Năm tháng ngày giờ vậy. Trong "Thiết Bản Thần Số" thì ngài Thiệu Ung gọi là số nạp âm.

Nguyên lý này được ngài Trần Đoàn lập thuyết, nhưng ít được lưu truyên rộng rãi, mà chỉ có giới Quan học trong Tử Cấm Thành mới được học và nghiên cứu.

Minh An
11-01-2012, 11:55 PM
Cháu cảm ơn bác rất nhiều. Cháu suy nghĩ thêm một chút để "tiêu hóa" đã ạ. Những kiến thức này mang tính hàn lâm cao nhưng đi sâu vào bản chất vấn đề.

Cháu xin phép hồi âm sau ạ. Cháu cảm ơn

NgoThem
13-01-2012, 09:12 AM
Cháu cảm ơn bác rất nhiều. Cháu suy nghĩ thêm một chút để "tiêu hóa" đã ạ. Những kiến thức này mang tính hàn lâm cao nhưng đi sâu vào bản chất vấn đề.




Vấn đề Minh An nên lưu ý:

- Đó là khái niệm về chữ tiềm 潛, khi mở rộng hàm nghĩa nội suy là tiềm năng, tiềm lực, tiềm long, ... Đối với 64 quẻ, thì quẻ biến đầu tiên từ hào Sơ, luôn luôn xuất hiện trong quá trình âm dương thăng giáng, thông qua sự biến hoá của 6 hào, như quẻ Càn hào Sơ biến được quẻ Cấu, hay quẻ Khôn hào Sơ biến được quẻ Phục, hoặc quẻ Khảm hào Sơ biến Tiết, ... cũng như bất kỳ một quẻ nào đó trong 64 quẻ.

Ta lấy ví dụ quẻ Càn hào Sơ biến Cấu:

- Càn hào Sơ biến lần 1 được Cấu
- Càn hào Nhị biến lần 3 được Cấu
- Càn hào Tam biến lần 5 được Cấu
- Càn hào Tứ biến lần 7 được Cấu
- Càn hào Ngũ biến lần 9 được Cấu
- Càn hào Thượng biến lần 11 được Cấu

Lấy thêm một ví dụ biến hào Sơ theo cơ chế lan truyền thông tin từ quẻ Lý:

- Lý hào Sơ biến lần 1 được Tụng
- Lý hào Nhị biến lần 3 được Tụng
- Lý hào Tam biến lần 5 được Tụng
- Lý hào Tứ biến lần 7 được Tụng
- Lý hào Ngũ biến lần 9 được Tụng
- Lý hào Thượng biến lần 11 được Tụng

.......................v.v...........

Câu hỏi được nêu ra, đó là số lần biến 1 - 3 - 5 - 7 - 9 - 11 cho ta biết điều gì ? Tại sao quẻ Cấu hay quẻ Tụng lại tiêu - tức (thông tin) theo cơ chế lan truyền thông tin với 5 hào như vây ?

Để tập trung mà không bị lan man, thì Minh An suy xét kỹ lưỡng từ những câu hỏi cơ bản này, Bạn dần sẽ mở ra những "mật ngữ" trong Dịch vậy

NgoThem

NgoThem
13-01-2012, 12:18 PM
Lấy thêm một ví dụ biến hào Sơ theo cơ chế lan truyền thông tin từ quẻ Lý:

- Lý hào Sơ biến lần 1 được Tụng
- Lý hào Nhị biến lần 3 được Tụng
- Lý hào Tam biến lần 5 được Tụng
- Lý hào Tứ biến lần 7 được Tụng
- Lý hào Ngũ biến lần 9 được Tụng
- Lý hào Thượng biến lần 11 được Tụng



Để hành dụng mang lại giá trị khi ứng dụng và trải nghiệm, thì Minh An kiểm nghiệm như sau:

- Ví dụ Minh An chiêm được quẻ Lý động hào 3

- Hào 3 quẻ Lý biến đến lần thứ 5 thì "ngộ" quẻ Tụng, tương ứng với thời gian tại thời điểm Mậu Ngọ, (làm thế nào để biết là Mậu Ngọ - thông qua 6 hào thăng giáng 120 lần của quẻ Lý), có thể là giờ Mậu Ngọ, có thể là ngày Mậu Ngọ, có thể là tháng Mậu Ngọ, có thể là năm Mậu Ngọ, có thể là người tuổi Mậu Ngọ, ...

- Tính đặc trưng của quẻ Tụng cho ta biết 2 thiên can, đó là Nhâm và Mậu

- Theo cơ chế lan truyền thông tin, khi gặp quẻ Lý động hào 3, thì làm thế nào để tránh sự kiện tụng, trong khi Ta đã biết về giới hạn của "thời điểm" sẽ ứng xảy ra sự tranh tụng. Đó chính là cái "mốc" giới hạn Mậu Ngọ.

- Thời gian thì thuận tự mang tính liên tục, năm tháng ngày giờ được phân làm 2, đó là sự phối cặp thời gian Năm + Ngày, và phối cặp thời gian Tháng + Giờ. Ví như năm có can Nhâm, lại gặp ngày có Can Mậu - đã cho Ta biết tuợng của Tụng xuất hiện; Hoặc gặp tháng có can Mậu giao với giờ có can Nhâm, cũng cho ta biết về tượng của Tụng. Đây là điều mà ngài Mạnh Hỷ đã lập thuyết trong Hoả Châu Lâm nói: "Can cho ta biết về Tượng của quẻ. Chi cho ta biết về ngôi vị của hào" vậy.

- Từ đây, Minh An có thể ứng dụng tự kiểm nghiệm với bản thân, khi giao lưu trong xã hội với đồng nghiệp, với bạn bè, hoặc với người mình cộng tác làm ăn, ... thì Minh An đã biết đến thời điểm nào thì nên dừng, không để chuyện tranh tụng xảy ra, để không mang cái hoạ vào thân vậy.

Tặng Minh An một kinh nghiệm mà Tôi đã ứng dụng suốt hơn nửa thế kỷ qua !

NgoThem

Thiên Hỷ
13-01-2012, 01:14 PM
164165---
Xin admin xoá bài giúp tôi!
Cám ơn anh nhiều!

NgoThem
25-01-2012, 01:57 PM
Mồng 3 tết: ngày Ất Dậu

Nhìn vào Lịch, thấy ngày ứng can Ất thì biết tượng của Khôn, phối với chi Dậu thì biết đó là ngôi vị của hào 6 (Hào thượng)

Căn cứ vào phép Quái biến để tìm Tượng, từ Tượng giải thích làm rõ Lý. Mỗi quẻ đều có thể chú giải nguồn gốc từ quẻ nào ra, được gọi là "thời lai", không hiểu rõ "thời lai" của quẻ, thì không biết được quẻ đó từ đâu mà ra. Không tìm hiểu sự biến của Hào, thì không biết quẻ đó sẽ biến ra quẻ nào. Hào bao quát hết thảy các hiện tượng và sự vật.

Nghĩa lý sâu kín của Dịch, không ngoài Lý Số Tượng Chiêm. Trong đó, Số thì không thể hiển hiện được rõ ràng, Lý thì không thể suy đến tận cùng, cho nên chỉ có thể gửi vào Tượng. Biết Tượng, thì Lý và Số đều nằm ở trong đó. Có Thời có Vị, thì có đức ứng trong đó.

Dịch thuyết của các dịch gia, tuy cách thức biểu đạt và con đường tiếp cận khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng chỉ là một. Một bên chủ về nghĩa lý, một bên lại chủ về tượng chiêm, ý nghĩa khác hẳn nhau. Bình tâm mà xét, phát minh được nghĩa - lý, khiến cho Dịch không bị mất đi tính hệ thống đối với tượng - số là vậy.

Giả sử Tượng có mà có thể bỏ đi, thì lời của thánh nhân không thể kê cứu, những điều Phục Hy nhờ tượng số đã để lại những lời dạy trở thành ra điều thừa vô ích. Người trị Dịch không thể rời Tượng và Số để đặt hào Thoán, người nói Dịch cũng không thể nói suông về tính mệnh ở bên ngoài tượng số vậy.

Thuyết cũ chỉ giảng chung chung, rồi đưa vào việc luận về Con người và chính trị xã hội, bỏ xót rất nhiều đạo lý (!!!)

五 聲 和 八 風 平 (Ngũ thanh hòa bát phong bình)
物 有 本 末, 事 有 終 始 (Vật hữu bổn mạt, sự hữu chung thủy)

Ngũ thanh Bát phong hợp hòa
Vật có gốc có ngọn, việc có đầu có cuối !

NgoThem
26-01-2012, 10:21 AM
Căn cứ vào phép Quái biến để tìm Tượng, từ Tượng giải thích làm rõ Lý. Mỗi quẻ đều có thể chú giải nguồn gốc từ quẻ nào ra, được gọi là "thời lai", không hiểu rõ "thời lai" của quẻ, thì không biết được quẻ đó từ đâu mà ra. Không tìm hiểu sự biến của Hào, thì không biết quẻ đó sẽ biến ra quẻ nào. Hào bao quát hết thảy các hiện tượng và sự vật.



Thời lai - Đông phương


- Ngày 4 tết - Bính Tuất - sao Giác - hào 4 Cấn - cung Thìn
- Ngày 5 tết - Đinh Hợi - sao Cang - hào 4 Đoài - cung Thìn
- Ngày 6 tết - Mậu Tý - sao Đê - hào 6 Khảm - cung Mão
- Ngày 7 tết - Kỷ Sửu - sao Phòng - hào 2 Ly - cung Mão
- Ngày 8 tết - Canh Dần - sao Tâm - hào 2 Chấn - cung Mão
- Ngày 9 tết - Tân Mão - sao Vĩ - hào 6 Tốn - cung Dần
- Ngày 10 tết - Nhâm Thìn - sao Cơ - hao 3 Càn - cung Dần


- Ngày Quý Hợi - tháng Quý Mão - năm Nhâm Thìn => sao Hỏa gần trái đất nhất trong chu kỳ của nó.
- Ngày Giáp Tuất - tháng Quý Mão - năm Nhâm Thìn => sao Kim và sao Mộc giao nhau.

GIÓ_PHIÊU DU
18-02-2012, 07:26 PM
Kính chào bác NgoThem!!!
Cháu tham khảo các bài viết của bác cũng vỡ ra được nhiều điều về dịch mà bấy lâu nay vì sách vở tư liệu không có.nhưng cháu học đến đoạn bác chỉ dậy bạn minh an
Nguyên văn bởi Minh An
Bác cũng viết "Ví dụ như hôm nay 08/01/2012, năm Tân Mão được số 28, tháng Tân Sửu được số 38, ngày hôn nay là Mậu Thìn được số 5, giờ Đinh Tị được số 54. Tổ hợp số được 28 + 38 + 5 + 54 = 125, từ đây thiết lập quẻ Tứ trụ như sau:

..............Năm.................Tháng......... .......Ngày..................Giờ
..........Tân Mão...........Tân Sửu...........Mậu Thìn.............Đinh Tị
..............Bí.....................Tiệm...... ...........Hàm................Đại súc

Thì cháu chưa hiểu tại sao năm Tân Mão được số 28 , tháng Tân Sửu được số 38 v.v..?

Đây chính là số thứ tự của 60 cặp can chi trong bảng Hoa Giáp. Như can chi Tân Mão thuộc tuần thủ Giáp Thân, thì Giáp Tý là 1, tới Giáp Tuất là 11, tới Giáp Thân ứng số 21, cho nên Tân Mão được số 28, tương tự như vậy với tổ hợp can chi Năm tháng ngày giờ vậy. Trong "Thiết Bản Thần Số" thì ngài Thiệu Ung gọi là số nạp âm.

Nguyên lý này được ngài Trần Đoàn lập thuyết, nhưng ít được lưu truyên rộng rãi, mà chỉ có giới Quan học trong Tử Cấm Thành mới được học và nghiên cứu.

Cháu đã hiểu và áp dụng được điều bác dậy cách tính nạp số cho thiên can địa chi của năm tháng ngày giờ nhưng cháu không hiểu vì sao tân mão ứng với số 28 lại ra quẻ BÍ ,tân sửu 38 ra quẻ TIỆM của tứ trụ của ví dụ trên,kính mong bác chỉ dậy.
Cháu chân thành cảm ơn bác.

NgoThem
23-02-2012, 07:44 AM
Cháu đã hiểu và áp dụng được điều bác dậy cách tính nạp số cho thiên can địa chi của năm tháng ngày giờ nhưng cháu không hiểu vì sao tân mão ứng với số 28 lại ra quẻ BÍ ,tân sửu 38 ra quẻ TIỆM của tứ trụ của ví dụ trên,kính mong bác chỉ dậy.



Bạn có thể chủ động mở topic, sang nhà mới chúng ta cùng khảo cứu.

GIÓ_PHIÊU DU
26-02-2012, 08:53 PM
Cháu cám ơn bác ngothem đã hồi đáp nhưng không hiểu sao diễn đàn này cháu không mở được chủ đề mới,lần trước nhờ hỏi dịch cũng vậy,đến lần này cháu loay hoay mãi mà không được,nếu không giải đáp được trong mục này ,vậy bác cho cháu khất mấy hôm để cháu hỏi 1 người bạn trong diễn đàn cách mở chủ đề mới ,lúc đó cháu xin phép được tham vấn cùng bác sau
Kính bác.

Thanhlong
29-03-2012, 12:22 PM
Chòm Tử vi-Phá Quân

Tử Vi -A
------------------
Thiên Cơ -Phá quân
------------------
Thái duơng- Thiên Phủ
Vũ khúc -Thái âm
Thiên Đồng-Tham Lang
B -Cự môn
C -Thiên tướng
Liêm trinh- Thiên lương
D - Thất sát
--------------
--------------
Tử vi -A
Thiên Cơ-Phá quân

vv....
Bác nào thấy hay thì dùng ^^